Tập 1: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi” - Nhân kỷ niệm 115 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước
Cách đây 115 năm, ngày 5/6/1911 người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Bến cảng Nhà Rồng, mang theo khát vọng cháy bỏng tìm đường cứu nước. Với ý chí và nghị lực phi thường, Người đã vượt qua tất cả những khó khăn, gian khổ trong hành trình bôn ba qua 3 đại dương, 4 châu lục, hơn 30 quốc gia và các vùng lãnh thổ, để tìm con đường cách mạng cho dân tộc Việt Nam. Từ con đường Người đã lựa chọn, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Bác Hồ kính yêu đã đi xa nhưng sự kiện lịch sử ngày 5/6/1911 mãi mãi in đậm trong tâm trí người dân Việt Nam và bè bạn trên thế giới. Nhân kỷ niệm 115 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, Trung tâm Cung ứng dịch vụ công phường Hàm Rồng giới thiệu tập 1 với nhan đề “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đất nước ta chìm trong ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai. Các phong trào yêu nước, các cuộc khởi nghĩa nổ ra khắp nơi, điển hình như cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương; các cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế dưới sự lãnh đạo của Hoàng Hoa Thám; phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục... do các sĩ phu yêu nước chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh lãnh đạo. Mặc dù diễn ra mạnh mẽ ở khắp nơi nhưng tất cả các phong trào đó đều thất bại vì thiếu một con đường và phương pháp đấu tranh đúng đắn, phù hợp với tình hình trong nước và bối cảnh quốc tế lúc bấy giờ.
Nhận ra sự bất lực và thất bại của hệ ý thức phong kiến và hệ ý thức tư sản, quyết định ra đi tìm đường cứu nước của người thanh niên Nguyễn Tất Thành cho thấy một tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong việc xác định hướng đi, cách đi, mục đích đi và nơi đến. Người tự quyết định con đường đi của mình, là “Tây du” mà không “Đông du”, đến tận ngọn nguồn của chủ nghĩa đế quốc Pháp, sang đất nước đang có những kẻ đến áp bức đồng bào mình, để khám phá các nền văn minh.
Khi còn trên ghế trường tiểu học Pháp-bản xứ, lần đầu tiên Nguyễn Tất Thành biết đến ba từ đẹp đẽ: Tự do-Bình đẳng-Bác ái. Nhưng ngay lúc bấy giờ, Người đã có sự hoài nghi, vì trên thực tế, không thấy tự do, bình đẳng, bác ái, mà chỉ thấy sự áp bức, bóc lột, đồng bào đau khổ, chết chóc dưới gót giày, họng súng và lưỡi lê của thực dân. Việc “muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy” là nguồn động lực mạnh mẽ thôi thúc Người phải ra nước ngoài, xem các nước làm thế nào, rồi trở về giúp đồng bào.
Để rồi ngày 5/6/1911, tại bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn-Gia Định (nay là thành phố Hồ Chí Minh), người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành khi đó mới 21 tuổi trên chiếc tàu mang tên Amiral Latouche-Tréville, bắt đầu cuộc hành trình vượt đại dương tìm đường cứu nước, với một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.
Để tìm tới “tự do, bình đẳng, bác ái” thực sự, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã đi qua nhiều nước châu Âu, châu Phi, châu Mỹ. Người hòa mình vào cuộc sống của những người lao động, làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động, như: phụ bếp, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh, làm vườn, vẽ thuê… Sau này nhà thơ Chế Lan Viên đã viết nên những vẫn thơ xúc động về những khó khăn, vất vả này của Người: “Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê/Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá/Và sương mù thành Luân Đôn, ngươi có nhớ/ Giọt mồ hôi Người nhỏ giữa đêm khuya?” (Người đi tìm hình của nước).
Những trải nghiệm sâu sắc từ thực tiễn đã giúp Người nhận rõ rằng, ở đâu đế quốc, thực dân cũng tàn bạo, độc ác; ở đâu những người lao động cũng bị bóc lột, áp bức và “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”. Người tìm hiểu nhiều học thuyết tiến bộ, nhiều mô hình cách mạng, song, theo Người, đó vẫn chỉ là những cuộc cách mạng “chưa đến nơi”.
Theo đó, năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp, bởi “đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Tháng 6/1919, thay mặt Hội Những người yêu nước Việt Nam, dưới tên Nguyễn Ái Quốc, Người gửi bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” tới Hội nghị Véc xây, đòi những quyền tối thiểu cho người dân bản xứ. Tuy bản yêu sách không được chấp nhận nhưng đã gây tiếng vang lớn trong dư luận nước Pháp, thức tỉnh tinh thần đấu tranh của các nước thuộc địa; đồng thời cũng đem lại cho Người một nhận thức là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức của chính mình.
Tháng 7/1920, khi được đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V. I. Lê-nin, Người vô phấn khởi vì đã tìm ra con đường để cứu dân, cứu nước. “Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Sau này, Người đã viết như thế về thời điểm lịch sử đầy ý nghĩa này.
Từ năm 1921 đến năm 1930, Người ra sức truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về lý luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” và “Đường Kách mệnh”, đặc biệt là việc xuất bản tờ báo Thanh niên ra ngày 21/6/1925, Người đã chuẩn bị về đường lối chính trị để tiến tới thành lập Đảng. Trong thời gian này, Người cũng tập trung cho việc chuẩn bị về tổ chức và cán bộ thông qua việc lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925) và tổ chức nhiều lớp đào tạo cán bộ và gửi đi học ở Liên Xô...
Khi điều kiện thành lập Đảng đã chín muồi, ngày 3/2/1930, dưới sự chủ trì của Người, tại Hương Cảng (Trung Quốc), Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản đã nhất trí thành lập một đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam cùng Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, đường lối cách mạng Việt Nam đã cơ bản được hình thành, con đường cứu nước đúng đắn của Việt Nam đã cơ bản được xác định.
Với việc lựa chọn và xác lập con đường cho cách mạng Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc không chỉ tập hợp mọi dòng chảy của phong trào yêu nước và cách mạng trong nước, mà còn kết nối cách mạng trong nước với dòng chảy của cách mạng vô sản thế giới. Từ đây, mọi giai cấp, mọi tầng lớp nhân dân yêu nước đã nhất tề đứng lên, “muôn người một dạ” đi theo Đảng, hướng đến mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Thu Hiền BT